
HQ Online - Một mặt chúng ta phải có những đột phá mới trong phát triển văn hóa, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa kinh tế với văn hóa, giữa hội nhập với bản sắc dân tộc; mặt khác phải kiên quyết đấu tranh với mọi luận điệu chống phá của các thế lực thù địch nhằm hạ thấp vai trò của văn hóa, “phi chính trị hóa văn hóa”.
1. Cấp ủy các cấp, các cơ quan, đơn vị, các tổ chức chính trị xã hội cần thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ vị trí, vai trò và tính tất yếu khách quan phải phát triển văn hóa. Để mọi người thấy rõ, phát triển văn hóa là một trong 4 trụ cột quan trọng bảo đảm cho đất nước phát triển kỷ nguyên mới. Các cơ quan báo chí, truyền thông phát huy tốt vai trò trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân, tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành.
Trong lĩnh vực văn hóa, kẻ thù của chúng ta không chỉ là các thế lực thù địch, phần tử phản động, mà còn là cái tôi cá nhân, những yếu tố, tư tưởng lạc hậu, bảo thủ. Do đó, phải đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch; đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh với chính cái “tôi” tiêu cực, lạc hậu, chủ nghĩa cá nhân; phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động, tạo đột phá trong lĩnh vực văn hóa.
2. Hệ thống pháp luật về văn hóa có vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều tiết sự phát triển của văn hóa trong kỷ nguyên mới. Hệ thống pháp luật về văn hóa chính là việc thể chế hóa thực hiện các nghị quyết của Đảng, góp phần chấn hưng phát triển văn hóa, đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật về văn hóa ở nước ta hiện nay còn có những hạn chế, bất cập, biểu hiện vừa thiếu, vừa chồng chéo, chưa toàn diện, nhiều nội dung còn lạc hậu chưa theo kịp thực tiễn, không thuận lợi cho việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thu hút, khơi thông và giải phóng các nguồn lực đầu tư cho phát triển.
Do đó, cần tập trung đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa. Hệ thống pháp luật về văn hóa không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà cần có tư duy mở, sẵn sàng đón nhận những cái mới, có tầm nhìn xa, giúp văn hóa có thể linh hoạt thích nghi với những thay đổi của thời đại. Pháp luật, chính sách về văn hóa cần tăng quyền tự chủ cho các tổ chức, cá nhân tự xác định ngành nghề kinh doanh văn hóa, nhà nước đóng vai trò kiểm tra, giám sát. Cần tiếp tục nghiên cứu đột phá vào xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực mới với tư duy mới. Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa, xây dựng các cơ chế đặc thù để phát triển các dịch vụ văn hóa có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn nhưng khó thu hồi vốn, lợi nhuận thấp. Cùng với xây dựng hệ thống pháp luật về văn hóa, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa, bảo đảm hệ thống pháp luật, chính sách văn hóa toàn diện, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, thúc đẩy văn hóa phát triển.
3. Văn hóa là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, do đó phải có những phương thức quản lý phù hợp. Cần đột phá trong đổi mới cơ chế quản lý, thay vì tư duy quản lý bằng mệnh lệnh, hành chính; phương thức quản lý mới tập trung vào tư duy “kiến tạo”, “chủ động, linh hoạt”, nhằm tạo ra các khuôn khổ, hệ sinh thái, cơ chế, chính sách thuận lợi nhất cho sự phát triển. Tập trung tháo gỡ các nút thắt, điểm nghẽn về thể chế, pháp luật, giải phóng mọi nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát, định hướng nội dung văn hóa trực tuyến; ban hành bộ tiêu chí, tiêu chuẩn cho các sản phẩm văn hóa và môi trường số. Kết hợp chặt chẽ giữa tinh, gọn bộ máy quản lý văn hóa với cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa và việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của các tổ chức, doanh nghiệp văn hóa.
Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phù hợp khuyến khích tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong hoạt động, khởi nghiệp trong lĩnh vực văn hóa; xây dựng môi trường lành mạnh trong các hoạt động quản lý, sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Cùng với đó, cần đẩy nhanh việc xây dựng nội dung số, hạ tầng số văn hóa quốc gia; chuẩn hóa và số hóa hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và di tích; xây dựng và phát triển các nền tảng trực tuyến cho bảo tàng, thư viện và biểu diễn nghệ thuật. Ứng dụng các công nghệ tiên tiến như thực tế ảo, thực tế tăng cường, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) trong sản xuất, trình diễn, phục hồi và bảo tồn di sản văn hóa.
Theo Nghệ sĩ Nhân dân Trịnh Thúy Mùi, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam: Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, công nghệ mang lại nhiều cơ hội mới cho phát triển văn hóa. Tuy nhiên, không phải loại hình nghệ thuật nào cũng có thể hoặc nên đưa hoàn toàn vào môi trường số. Đối với những loại hình nghệ thuật truyền thống, việc giữ gìn nguyên bản, bảo tồn giá trị gốc là yêu cầu bắt buộc, từ đó mới có thể phát triển bền vững trên nền tảng bảo tồn. Do đó, đầu tư cho văn hóa phải là đầu tư đồng bộ: đầu tư cho thiết chế, cho con người, cho công nghệ và cho sáng tạo, trong đó yếu tố then chốt vẫn là nguồn nhân lực.

Phút thư giãn của những người lính trẻ nhà giàn DK1/14
4. Đặc điểm nổi bật của văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Do đó, cần có chiến lược để khai thác thế mạnh quốc gia, vùng miền tập trung phát triển một số lĩnh vực công nghiệp văn hóa trọng điểm, mũi nhọn, có sức cạnh tranh mạnh mẽ trong khu vực và quốc tế, bảo đảm vừa có vai trò định hướng, dẫn dắt, vừa có khả năng đóng góp quan trọng vào sự phát triển KTXH. Tập trung chuyển hóa các giá trị truyền thống, di sản thành các sản phẩm hiện đại giúp văn hóa dân tộc vừa có thể tồn tại và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, vừa phát huy vai trò định hướng thẩm mỹ, lối sống và giá trị văn hóa mới cho thế hệ trẻ và giúp cho bạn bè quốc tế dễ tiếp nhận. Đẩy mạnh ứng dụng KHCN trong toàn bộ chuỗi giá trị của ngành công nghiệp văn hóa, từ sáng tạo, sản xuất, đến phân phối, tiêu thụ và bảo vệ bản quyền. Ưu tiên, đầu tư phát triển một số tập đoàn công nghiệp văn hóa tầm cỡ khu vực và quốc gia với các sản phẩm có chất lượng tốt, mang đậm bản sắc văn hóa, con người Việt Nam, góp phần định vị văn hóa Việt Nam trong bản đồ văn hóa thế giới.
GS, TSLê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng, với việc triển khai Nghị quyết 80, văn hóa được xác định là lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho đất nước, đặc biệt thông qua phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết 80 cũng tạo điều kiện để các giá trị văn hóa được gìn giữ, bảo tồn và phát triển ở một tầm vóc mới. Khi văn hóa được tôn trọng, được ưu tiên và có cơ chế, chính sách phù hợp, các giá trị truyền thống sẽ có điều kiện phát huy mạnh mẽ, đồng thời thích ứng linh hoạt với đời sống hiện đại, văn hóa sẽ có điều kiện phát triển lành mạnh, bền vững và đóng góp tích cực hơn cho xã hội. Đây chính là nền tảng để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đủ sức hội nhập và cạnh tranh trong môi trường quốc tế.
Theo GS, TSKH Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam: Chúng ta cần có các đề án tạo ra sản phẩm văn hóa đặc sắc, đúng tầm với tinh thần công nghiệp văn hóa. Tại hội thảo quốc tế Việt Nam học lần VII vừa qua, có một nhà khoa học nước ngoài đã nói, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia tiên phong nhiều lĩnh vực khai thác công nghiệp văn hóa. Nhưng vấn đề là chúng ta có tập trung đầu tư mạnh vào đúng điểm đột phá sáng tạo không? Tiếp theo là cần một hệ thống bài bản khai thác nguồn lực sáng tạo. Để làm được điều đó, cần vô cùng sự gắn kết của bốn nhà: Nhà quản lý, nhà chuyên môn, nhà đầu tư và nhà báo...
5. Cần có sự gắn kết chặt chẽ giữa giao lưu văn hóa với ngoại giao văn hóa trong chính sách đối ngoại, coi đó là con đường để trao đổi, tiếp thu, quảng bá nhằm tăng cường hiểu biết, tín nhiệm giữa Việt Nam và các nước, từ đó đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hợp tác về văn hóa. Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động hội nhập quốc tế về văn hóa, chuyển đổi toàn diện tư duy từ “giao lưu, gặp gỡ” sang “hợp tác đích thực”, từ đó hình thành các cơ chế, chính sách phù hợp tạo môi trường hợp tác lành mạnh, góp phần tăng cường và phát huy sức mạnh mềm quốc gia.
Trước hết tập trung phát huy tổng hợp sức mạnh ngoại giao văn hóa, kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân trên lĩnh vực văn hóa. Phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong truyền bá, giải thích về chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước, làm cầu nối để lan tỏa các giá trị văn Việt Nam đến với bạn bè quốc tế và gìn giữ, phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại. Xây dựng chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài nhằm định hướng tổng thể truyền thông quốc gia, trong đó văn hóa được xác định là trụ cột quan trọng, là nội dung trung tâm trong chiến lược để lan tỏa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; đẩy mạnh việc lan tỏa các tác phẩm văn học, nghệ thuật vừa chứa đựng “hồn cốt” văn hóa, con người Việt Nam, vừa mang tầm thời đại đến với bạn bè quốc tế.
6. Tiếp tục huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, mọi người dân nâng cao hiệu quả đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, phản động chống phá trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Trước hết là vai trò xung kích của các cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận; trong đấu tranh trực diện với các luận điệu chống phá; cũng như vai trò của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân trong nhận diện đúng âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, nâng cao sức đề kháng. Mặt khác, cần có chế tài chặt chẽ xử kịp thời, kiên quyết với những hành vi vi phạm phát tán các thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng, hành vi truyền bá sản phẩm phi văn hóa, độc hại ảnh hưởng đến tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống của nhân dân. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan an ninh, cơ quan bảo vệ pháp luật, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh với các hành vi chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, con người.
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, với cả cơ hội và thách thức mới. Trong lĩnh vực văn hóa đó là thách thức từ sự biến đổi hệ giá trị; từ nguy cơ xâm lấn văn hóa; từ sự chống phá của các thế lực thù địch. Để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, hệ điều tiết, là trụ cột bệ đỡ cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, một mặt phải có những đột phá mới trong phát triển văn hóa, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa kinh tế với văn hóa, giữa hội nhập với bản sắc dân tộc; mặt khác phải kiên quyết đấu tranh với mọi luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
(Tiếp theo và hết)
Trần Hữu Thanh, Nguyễn Thanh Thủy
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn