
HQ Online - Một kỷ nguyên mới đã bắt đầu. Mô hình nhất thể hóa lãnh đạo cấp cao cần được nâng lên thành một chủ trương chiến lược, lâu dài, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta. Trong thực tiễn vận hành mô hình này, cũng cần lưu tâm giải quyết một số vấn đề đặt ra để nhất thể hóa thực sự vừa là “ý Đảng”, vừa thuận “lòng dân”.
Mô hình cần nhất quán, lâu dài
Việc Tổng Bí thư Tô Lâm được Hội nghị Trung ương 2 giới thiệu và được kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI bầu giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 - 2031 cho thấy việc nhất thể hóa hai chức danh lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước đã được thực hiện một cách chính thức, ngay đầu nhiệm kỳ với sự chuẩn bị, cân nhắc kỹ lưỡng của Trung ương và Quốc hội.
Sự kiện này sẽ mở ra một tiền lệ cho việc xây dựng bộ máy nhà nước thực quyền hơn, với sự lãnh đạo tập trung, toàn diện, trực tiếp hơn của Đảng; bảo đảm sự thống nhất, xuyên suốt giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, tạo điều kiện để các chủ trương, đường lối được triển khai nhanh chóng, đồng bộ và sát với thực tiễn hơn.
Chúng ta đang bàn về mô hình nhất thể hoá chứ không phải việc Tổng Bí thư là Chủ tịch nước như một giải pháp tình huống, có tính ngẫu nhiên và nhất thời trước đây. Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay vận hành theo mô thức: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Tuy nhiên, sự phân định cơ học giữa lãnh đạo và quản lý, trong thực tiễn, có thể tạo ra những “khoảng trống trách nhiệm” hoặc sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền.
“Khi người đứng đầu cấp ủy đồng thời là người đứng đầu cơ quan hành chính, chúng ta đang thực hiện quá trình “hóa thân” của Đảng vào trong bộ máy Nhà nước”[1]. Đảng trực tiếp nhập cuộc, trực tiếp chịu trách nhiệm trước pháp luật và Nhân dân thông qua các chức danh quản lý cụ thể. Đó chính là sự thống nhất giữa “ý Đảng và lòng dân”, giữa ban hành nghị quyết và thực thi chính sách, giữa lãnh đạo và quản lý, kiến tạo phát triển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và nhân dân đặc khu Cồn Cỏ. Ảnh: QĐND
Sự tập trung quyền lực chính trị và nhà nước vào một cá nhân thể hiện tính rõ ràng và minh bạch về cả quyền hạn và trách nhiệm. Theo Điều lệ Đảng, với nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền quyết định thuộc về Đại hội đại biểu toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Tổng Bí thư là người đứng đầu, chủ trì mọi mặt công tác của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương nhưng lại không có quyền lực cá nhân, mà là “cá nhân phụ trách”. Tuy nhiên, Chủ tịch nước lại có các quyền cá nhân do Hiến pháp quy định.
Như vậy, nhất thể hoá hai chức vụ này thì Tổng Bí thư, ngoài đại diện cho quyền lực tập thể sẽ có thêm các quyền cá nhân, hay nói một cách khác, sẽ có quyền lực chính thống hơn, rõ ràng hơn. Trong quan hệ của Chủ tịch nước với Thủ tướng Chính phủ, vị thế nguyên thủ quốc gia của Chủ tịch nước cũng sẽ mạnh và thực chất hơn khi thực hiện quyền yêu cầu Thủ tướng họp bàn về các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước theo quy định tại Điều 90 của Hiến pháp.
Trên bình diện quan hệ quốc tế, việc nhất thể hóa hai chức danh cấp cao nhất sẽ nâng cao vai trò, vị thế của Đảng, Nhà nước và đất nước ta trên trường quốc tế. Tính chính danh, pháp lý, thông lệ quốc tế được đảm bảo khi nhìn nhận và tiếp đón nghi thức dành cho người đứng đầu quốc gia; tránh những tranh luận không cần thiết khi thực hiện các chuyến thăm, hội đàm cấp nhà nước với các nước, tổ chức quốc tế, nhất là các nước không cùng thể chế chính trị; tăng cường tiếng nói và sức mạnh của Việt Nam trên thế giới.
Nhìn một cách tổng thể, mô hình nhất thể hóa lãnh đạo cấp cao vừa kế thừa truyền thống, bài học kinh nghiệm quý báu của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ, vừa có sự phát triển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới; phù hợp với thông lệ, xu hướng chính trị thế giới hiện đại và thực tiễn tình hình chính trị - xã hội nước ta hiện nay; đáp ứng tốt cả nhiệm vụ đối nội và đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài.

Đại hội VI của Đảng (1986), với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức và cán bộ, đổi mới phong cách làm việc đã đánh dấu bước chuyển quan trọng, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Ảnh: TL
Một số vấn đề đặt ra khi nhất thể hóa lãnh đạo cấp cao
Để giải quyết lo ngại thường gặp về mô hình nhất thể hóa như “tha hóa quyền lực”, “chuyên quyền”, “độc đoán”, phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ, suy yếu vai trò của tập thể lãnh đạo… thì quyền lực cần được kiểm soát và sử dụng đúng đắn, hiệu quả.
Trước hết, cần xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy định về trách nhiệm, quyền hạn của tập thể và cá nhân trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền. Điều lệ Đảng, Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Hiến pháp, các văn bản pháp luật cần quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, đặt trong mối quan hệ với các cơ quan lãnh đạo như Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư... Vào tháng 9/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 368-QĐ/TW nâng cấp vị trí Thường trực Ban Bí thư, từ “lãnh đạo cấp cao” thành “lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước”, qua đó chính thức mở rộng cấu trúc quyền lực, truyền tải thông điệp nguyên tắc lãnh đạo tập thể vẫn được tôn trọng và duy trì, mang lại sự cân bằng và ổn định cho cấu trúc lãnh đạo thượng tầng.
Đồng thời, Đảng, Nhà nước cần kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng và pháp chế xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng phải được thực hiện nghiêm túc: tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc pháp chế thống nhất đòi hỏi bảo đảm địa vị tối cao của Hiến pháp, pháp luật, từ việc xây dựng pháp luật đến việc chấp hành pháp luật; các cơ quan Nhà nước phải thực hiện chức năng của mình trong phạm vi thẩm quyền trên cơ sở pháp luật. Quyền lực, dù cấp độ nào, vốn được Hiến pháp, pháp luật quy định. Do đó, thực hiện tốt các nguyên tắc xây dựng Đảng và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa sẽ bảo đảm các tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ được giao.
Bên cạnh đó, đề cao trách nhiệm giải trình và sự nêu gương của người đứng đầu. Nhất thể hóa đặt người lãnh đạo vào vị thế đứng mũi chịu sào; quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn. “Quyền lực càng lớn thì trách nhiệm càng phải cao. Khi đã giao quyền, phải đồng thời yêu cầu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và trước lịch sử”[2], Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Quốc Lý nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nêu quan điểm.
Khi một cá nhân đảm nhận đồng thời hai vai trò lãnh đạo cao nhất, áp lực trách nhiệm sẽ lớn hơn rất nhiều; mọi thành công hay thất bại đều được nhận diện rõ ràng, buộc người đứng đầu phải hành động thận trọng, minh bạch và vì lợi ích chung. Giải trình là một cơ chế pháp lý và đòi hỏi một quy trình chuyên nghiệp, gắn với yêu cầu công khai, minh bạch hoá về thực thi quyền lực và trách nhiệm. Tổng Bí thư đồng thời là Chủ tịch nước không những phải giải trình và trả lời chất vấn trước Trung ương mà cả trước Quốc hội thì chất lượng của giải trình và chất vấn sẽ cao hơn và thực chất hơn.
Người đứng đầu phải nêu cao tinh thần gương mẫu trong chấp hành các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước; hết lòng, hết sức tận tụy phụng sự Tổ quốc và Nhân dân. Trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu có sức hiệu triệu, cổ vũ, truyền cảm hứng to lớn đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân; nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Người đứng đầu phải thực sự là hiện thân của “đạo đức”, “văn minh”, tiêu biểu nhất về đạo đức, trí tuệ, trách nhiệm trong toàn Đảng, toàn dân; đi đầu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở mọi lúc, mọi nơi. Khi nêu gương trở thành việc làm thường xuyên, tự giác và là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu thì quyền lực sẽ được sử dụng đúng mục đích, có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Một vấn đề nữa là tăng cường vai trò giám sát của cơ quan dân cử; chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và quyền làm chủ của nhân dân nhân dân. Nhất thể hóa các chức danh lãnh đạo cao nhất nhưng phải tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp phải thực sự là tiếng nói quyền lực của Nhân dân, thực hiện tốt chức năng giám sát tối cao đối với bộ máy nhà nước, kể cả người đứng đầu.
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội phải thực sự trở thành “bộ lọc” phản biện xã hội sắc sảo. Thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mọi quyết định của người đứng đầu phải được số hóa, công khai để mọi người dân đều có thể giám sát. Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, công luận trong phản ánh trung thực hiện thực xã hội và ý kiến của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước trước những quyết định trọng đại của đất nước.
Tựu chung lại, nhất thể hóa lãnh đạo cấp cao là sự lựa chọn phù hợp của Việt Nam khi bước vào kỷ nguyên mới. Mô hình này sẽ phát huy tác dụng to lớn để đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng. Khi "ý Đảng" gắn kết với "lòng dân", nhất định chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu, tầm nhìn lớn lao trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Và khi ấy, mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, bóp méo của các thế lực thù địch về nhất thể hoá lãnh đạo cấp cao ở Việt Nam, tự khắc trở nên lạc lõng, mơ hồ.
Thượng tá, TS Phan Văn Lương
Trung tá, TS Khúc Văn Hưởng
[1] Nhị Lê, Nhất thể hóa chức danh lãnh đạo: Cuộc cách mạng tư duy để kiến tạo kỷ nguyên mới, Báo điện tử Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08/4/2026.
[2] Tổng Bí thư giữ chức Chủ tịch nước: Từ thống nhất quyền lực đến thống nhất hành động, Báo điện tử Dân Việt, ngày 07/4/2026.
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn