
HQ Online - Câu chuyện nên hay không nên nhất thể hóa lãnh đạo cấp cao luôn là chủ đề nóng ở Việt Nam trước và sau mỗi kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp. Trước Đại hội XIV của Đảng, nhiều băn khoăn, trăn trở đặt ra: tại sao Việt Nam chưa nhất thể hóa trong khi đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước đặt ra ngày càng cao?
Lý luận soi sáng
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, giai cấp vô sản chỉ có thể thực hiện vai trò lãnh đạo cách mạng khi có một chính đảng độc lập, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, giành lấy chính quyền về tay giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử thế giới, nhưng “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc…”[1]. Đảng Cộng sản ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân. Đảng Cộng sản là người lãnh đạo, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng vô sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò của Đảng Cộng sản: Cách mệnh “trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[2]. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5/1941) quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận, một chính quyền nhà nước riêng sau khi cách mạng thành công theo nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết. Hội nghị chủ trương “sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào, mà là của chung toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam đều thảy được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”[3].
Giữa tháng 8/1945, Quốc dân Đại hội được triệu tập tại Tân Trào, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước đồng bào cả nước và toàn thế giới sự ra đời của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam thấy được chính quyền nhà nước mới do Đảng và Hồ Chí Minh lãnh đạo giành được là chính quyền của mình, là công cụ để xây dựng xã hội mới. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh sáng lập, sau này là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Thông lệ quốc tế và xu hướng chính trị trên thế giới để tham chiếu
Các nước trên thế giới, dù là chính thể cộng hoà hay quân chủ lập hiến, thì hầu hết đều áp dụng mô hình: Đảng nào giành đa số ghế trong quốc hội, sẽ được quyền thành lập chính phủ, người đứng đầu Đảng đó hiển nhiên nắm quyền điều hành bộ máy nhà nước, lãnh đạo đất nước. Các nước cộng hòa tổng thống như Mỹ, Mexico, Philipines… thì lãnh đạo đảng cầm quyền sẽ được bầu vào cương vị Tổng thống, vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa nắm quyền hành pháp và chỉ huy tối cao quân đội. Các nước cộng hòa bán tổng thống như Nga, Pháp… thì lãnh đạo đảng cầm quyền sẽ được bầu làm Tổng thống, hoặc Thủ tướng. Các nước cộng hòa nghị viện như Đức, Ấn Độ, Tây Ban Nha… thì lãnh đạo đảng cầm quyền sẽ được bầu vào cương vị Thủ tướng, nắm quyền hành pháp. Singapore dù theo chế độ đa đảng nhưng cách thức vận hành của Đảng Hành động Nhân dân (PAP) cho thấy sự hòa quyện thống nhất giữa bộ máy Đảng và bộ máy Chính phủ; người giỏi nhất của Đảng đồng thời là người điều hành trực tiếp bộ máy quốc gia. Đối với các nước quân chủ lập hiến như Anh, Nhật Bản, Thái Lan… thì lãnh đạo đảng thắng cử sẽ trở thành Thủ tướng, nắm quyền điều hành đất nước.
Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện nhất thể hóa hai hay nhiều chức danh đã được thực hiện từ lâu, đảm bảo bộ máy đảng và nhà nước được vận hành thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, chứng minh được hiệu quả vượt trội trong việc huy động nguồn lực quốc gia và hoạt động đối ngoại. Điển hình nhất là Liên Xô (cũ), Trung Quốc và các quốc gia có nhiều nét tương đồng về hệ thống chính trị với Việt Nam.
Ở Liên Xô, người đứng đầu Đảng Cộng sản (Bônsêvic) Liên Xô thường được bầu giữ cương vị lãnh đạo nhà nước hoặc chính phủ. Thời kỳ đầu, người đứng đầu Đảng nắm vai trò hành pháp: V.I. Lênin, lãnh tụ của Đảng đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Dân ủy (tức Thủ tướng); Stalin, Tổng Bí thư và Khrushchov, Bí thư thứ nhất đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (tương đương Thủ tướng). Thời kỳ sau này, các Tổng Bí thư của Đảng đều đảm nhiệm đồng thời cương vị Chủ tịch Xô viết Tối cao (nguyên thủ quốc gia, đứng đầu nhà nước) như Brezhnev, Andropov, Chernenko…

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: Báo Thanh niên
Ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông, Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1943 đến năm 1976, đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Trung ương (1949 - 1954), Chủ tịch nước (1954 - 1959). Sau đó một thời gian khá dài, Trung Quốc không thực hiện nhất thể hóa, thậm chí chức vụ Chủ tịch nước bị bãi bỏ. Thời kỳ Đặng Tiểu Bình là lãnh đạo trên thực tế, ông không nắm các chức vụ đứng đầu Đảng, Nhà nước nhưng là Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Kể từ năm 1993, qua các thời kỳ hạt nhân lãnh đạo là Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng thời đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Điều này đã trở thành một định chế vững chắc giúp Trung Quốc phát triển nhảy vọt về kinh tế và khẳng định vị thế cường quốc.
Mô hình của một số nước xã hội chủ nghĩa như Lào, Cu Ba, Triều Tiên cũng cho thấy xu hướng này là tất yếu, nhằm đảm bảo sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Ở Lào, nhiều nhiệm kỳ gần đây, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đều đảm nhiệm cương vị Chủ tịch nước. Cu Ba trước đây, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cu Ba kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng (Fidel Castro, Raul Castro), hiện nay thực hiện mô hình Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Cu Ba kiêm Chủ tịch nước (Miguel Díaz-Canel). Ở Triều Tiên trước đây, Kim Nhật Thành, lãnh tụ Đảng Lao động Triều Tiên đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng, Chủ tịch nước; hiện nay, Kim Châng Un, Tổng Bí thư đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ (nguyên thủ quốc gia).
Thực tiễn và kinh nghiệm quý báu của cách mạng Việt Nam
Việc nhất thể hóa hay kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo cấp cao không phải là điều xa lạ ở Việt Nam. Với uy tín rộng lớn, đạo đức sáng ngời và tài năng xuất chúng, Lãnh tụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch Đảng từ 2/1951 đến 9/1969, Tổng Bí thư từ 10/1956 đến 9/1960 đồng thời là Chủ tịch, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời từ 28/8/1945, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 1/1946 đến 9/1969, Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ từ 11/1946 đến 9/1955. Người đã cùng Trung ương Đảng, Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dù ở cương vị cao nhất song Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng vai trò của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận… đề cao quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của xã hội.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2/9/1969) đến trước kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoa XVI, việc kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo cao nhất chỉ diễn ra ở một số giai đoạn ngắn, có tính chất tình thế. Tháng 7/1986, tại Hội nghị đặc biệt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng (từ tháng 7 đến tháng 12/1986) sau khi Tổng Bí thư Lê Duẩn từ trần. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng kiêm nhiệm chức Chủ tịch nước (10/2018 - 4/2021) sau khi Chủ tịch nước Trần Đại Quang qua đời. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã từng đảm nhiệm vị trí người đứng đầu Nhà nước (từ tháng 5 đến tháng 10/2024).

Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tuyên thệ nhậm chức ngày 23/10/2018. Ảnh VGP/Nhật Bắc
Trên thực tế, Đảng ta đã có những bước chuẩn bị cho tiến trình nhất thể hóa chức vụ lãnh đạo chủ chốt. Dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng trình Đại hội X (2006) cũng đã đặt ra phương án giới thiệu đồng chí Tổng Bí thư để Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước để các cấp ủy, tổ chức đảng thảo luận, cho ý kiến rộng rãi. Đại hội XII và đặc biệt Nghị quyết 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã chính thức đặt vấn đề nhất thể hóa lên bàn nghị sự. Việc thí điểm nhất thể hóa chức danh bí thư đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện ở những nơi có điều kiện và được áp dụng thành công ở các tỉnh Quảng Ninh, Long An đã chứng minh: Nhất thể hóa là con đường ngắn nhất để đưa nghị quyết vào cuộc sống. Khi bí thư đồng thời là chủ tịch, khoảng cách giữa nghị quyết của Đảng và quyết định của chính quyền được rút ngắn; không còn cảnh cấp ủy ra nghị quyết rồi chính quyền loay hoay thực hiện, thậm chí là “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Kết quả của bộ máy tinh gọn địa phương đã giúp giảm 20% - 30% các khâu trung gian, tiết kiệm hàng ngàn tỉ đồng ngân sách cho đầu tư phát triển.
Nếu trước đây còn e dè, vừa làm vừa rút kinh nghiệm thì nay thực tiễn đã trả lời. Đại hội XIV là thời điểm để “định danh” mô hình này như một đặc trưng của quản trị Việt Nam hiện đại trong kỷ nguyên mới. Rõ ràng, nhất thể hóa không phải là một ý tưởng bột phát mà là kết quả của một quá trình chắt lọc, kiểm nghiệm nghiêm túc qua các kỳ Đại hội của Đảng. Thực tiễn đang đòi hỏi nhất thể hóa không còn là “thí điểm” mà đang trở thành một mô hình chính trị tất yếu để giải phóng sức sản xuất và sức sáng tạo của toàn dân tộc.
Kỷ nguyên mới cần phát huy cao độ trách nhiệm người đứng đầu
Điều kiện lịch sử quốc tế và trong nước không ngừng thay đổi, nhất là cách đánh giá, ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đã thay đổi thì việc cấu trúc lại bộ máy lãnh đạo đất nước theo hướng thực quyền, chính danh và thống nhất là hết sức cần thiết trong bối cảnh mới.
Hiện nay, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và chứa đựng những nhân tố khó lường; sự tác động mạnh mẽ của mặt trái cơ chế thị trường, hội nhập quốc tế; sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên… đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết ở nước ta. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực. Lực lượng sản xuất mới, nhất là công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển đột phá chưa từng có. Các thế lực thù địch, phản động không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta bằng “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội. Bên cạnh đó, các thách thức an ninh phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh, an ninh mạng ngày càng gay gắt.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: TTXVN
Từ Đại hội XIV của Đảng, đất nước bước vào kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Đó là “kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu”[4]. Đại hội XIV xác định mục tiêu tổng quát: Đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Việc nhất thể hóa hai chức chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước ngay từ đầu nhiệm kỳ đã tăng tính chính danh, sự hiệu quả, giúp Đảng, Nhà nước thuận lợi trong việc đẩy mạnh đổi mới, hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm, để Việt Nam vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Những chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, về hành động của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị và nhân dân trong gần hai năm qua, nhất là cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp; công tác cán bộ; phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển văn hóa… mang đậm dấu ấn lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và vai trò cá nhân của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm - người kế tục và phát triển những di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối để lại - đang tạo quyết tâm mới, trăm triệu người như một, chung sức đồng lòng, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thực hiện thắng lợi những mục tiêu, tầm nhìn lớn lao mà Đảng ta đã xác định.
Thượng tá, TS Phan Văn Lương
Trung tá, TS Khúc Văn Hưởng
[1] C.Mác và Ph. Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.105.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.289.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 7, tr.114.
[4] Nội dung chuyên đề của Tổng Bí thư Tô Lâm về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 31/10/2024.
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn