
HQ Online - Trong tiến trình bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, sự ra đời của Hải quân nhân dân Việt Nam là một dấu mốc chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ nền móng ban đầu với lực lượng còn mỏng, phương tiện thô sơ, đến đội hình chính quy, hiện đại hôm nay là cả một chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành bền bỉ, đầy gian khó nhưng vô cùng vẻ vang.
Mốc son của lực lượng bảo vệ biển đảo
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước ta tạm thời chia cắt hai miền. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời làm hậu phương lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Trong bối cảnh đó, vấn đề bảo vệ vùng biển, ven bờ và chủ quyền quốc gia trên hướng biển đặt ra yêu cầu cấp thiết.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc quyết định thành lập thủy đội Sông Lô, Bạch Đằng ngày 24/8/1955. Đây là hai đơn vị chiến đấu đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam. Ảnh: Tư liệu
Ngày 7/5/1955, Bộ Quốc phòng ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ bể, làm “cơ quan giúp Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các lực lượng phòng thủ bờ bể, tổ chức đào tạo cán bộ, nhân viên thủy thủ; sản xuất, sửa chữa dụng cụ, phương tiện về thủy quân; xây dựng các thủy đội để bàn giao cho các khu và liên khu làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trên các vùng sông, biển”.
Cục Phòng thủ bờ bể chính là đơn vị tiền thân của Quân chủng Hải quân. Và ngày 7/5/1955 trở thành mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của Hải quân nhân dân Việt Nam.
Việc thành lập Cục Phòng thủ bờ bể không chỉ mang ý nghĩa tổ chức đơn thuần, mà thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò đặc biệt quan trọng của biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đây, lần đầu tiên nước ta có một lực lượng vũ trang chuyên trách làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh trên hướng biển.
Những ngày đầu thành lập, tổ chức bộ máy còn ở quy mô nhỏ, quân số mỏng; cán bộ, chiến sĩ chủ yếu được điều động từ các đơn vị bộ đội lục quân, chưa có kinh nghiệm hoạt động trên biển. Phương tiện chủ yếu là các tàu thuyền nhỏ, trang bị kỹ thuật hạn chế. Điều kiện sinh hoạt, huấn luyện còn nhiều thiếu thốn.
Chính trong hoàn cảnh đầy gian khó ấy, nền móng đầu tiên của lực lượng Hải quân cách mạng đã được gây dựng một cách vững chắc, liên tục phát triển, trưởng thành và lập nên rất nhiều chiến công hiển hách trên chiến trường sông biển.
Xây dựng tổ chức, hình thành thế trận bảo vệ biển đảo
Giai đoạn 1955–1960 là thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng Hải quân cả về tổ chức và con người. Các đơn vị lần lượt được kiện toàn; hệ thống cơ sở bảo đảm từng bước được hình thành; công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ được triển khai khẩn trương.
Cán bộ, chiến sĩ Hải quân khi đó phải làm quen với môi trường biển đầy khắc nghiệt: sóng gió thất thường, điều kiện khí tượng phức tạp, yêu cầu bảo đảm kỹ thuật cao. Từ việc nắm vững kiến thức hàng hải, sử dụng phương tiện, đến kỹ năng quan sát, xử trí tình huống trên biển – tất cả đều phải học tập, rèn luyện trong điều kiện vừa làm vừa rút kinh nghiệm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Hải quân tại quân cảng Vạn Hoa (nay thuộc đặc khu Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh), ngày 13/11/1962. Ảnh: Tư liệu
Đó là quá trình chuyển đổi từ tư duy “giữ bờ” sang xây dựng lực lượng có khả năng hoạt động, chiến đấu trên biển. Từng chuyến tuần tra ven bờ, từng đợt huấn luyện trên sóng nước không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn là những bước thử thách bản lĩnh.
Trong giai đoạn này, cùng với việc củng cố tổ chức, Hải quân từng bước xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ được đặt lên hàng đầu. Lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân là yếu tố cốt lõi bảo đảm cho lực lượng non trẻ vượt qua mọi khó khăn ban đầu.
Chính trong môi trường rèn luyện ấy, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ - Người chiến sĩ Hải quân” được hun đúc: vững vàng về chính trị, thành thạo về chuyên môn, nghiêm túc về kỷ luật, kiên cường trước sóng gió biển khơi.
Xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu
Bước sang đầu thập niên 1960, tình hình trên biển ngày càng diễn biến phức tạp. Âm mưu xâm phạm chủ quyền, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch gia tăng, Hải quân nhân dân Việt Nam phải nhanh chóng chuyển trạng thái từ xây dựng sang sẵn sàng chiến đấu.

Từ đơn vị tiền thân là Cục Phòng thủ bờ bể, đến Quân chủng Hải quân chính quy, hiện đại là cả một chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành bền bỉ, đầy gian khó nhưng vô cùng vẻ vang. Ảnh: Trọng Thiết
Đến cuối năm 1963, lực lượng Hải quân Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc. Sau gần 9 năm xây dựng (5/1955 - 12/1963), Hải quân nhân dân Việt Nam đã có các lực lượng tàu tuần tiễu ven biển, tàu phóng ngư lôi, tàu săn ngầm, vận tải, trinh sát và một số tàu phục vụ khác như tàu dầu, tàu chở nước, tàu đo đạc biển, tàu trục vớt…
Hệ thống cầu cảng, các đơn vị công binh công trình, lực lượng bảo đảm, phục vụ cùng với các cơ sở vật chất kỹ thuật đã được xây dựng; hệ thống ra đa, đài trạm quan sát được bố trí dọc ven biển từ Quảng Ninh đến Cửa Tùng. Cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ hải quân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hải quân đã có khả năng tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng chiến đấu trên biển, sẵn sàng cùng quân dân cả nước bước vào cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa và chi viện chiến trường miền Nam.
Nhìn lại chặng đường đầu tiên, có thể khẳng định: dù xuất phát điểm thấp, điều kiện còn hạn chế, nhưng lực lượng Hải quân đã sớm xác lập được những giá trị cốt lõi – trung thành, kỷ luật, đoàn kết, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng. Chính những giá trị ấy là nguồn cội của truyền thống anh hùng, tạo đà cho sự trưởng thành vượt bậc trong các giai đoạn tiếp theo.
Thùy Liên
(Còn nữa)
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn