
HQ Online - Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc lịch sử văn hóa và vị thế của đất nước trong kỷ nguyên mới là con đường đúng đắn, là bước ngoặt lịch sử để khẳng định uy tín, vị thế và định vị Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng.
Sau 40 năm đổi mới, thế và lực của Việt Nam đã không ngừng được nâng nên, thành tựu đó có đóng góp không nhỏ của đối ngoại. Đối ngoại không chỉ góp phần mở ra cục diện mới, đưa đất nước phát triển; mà còn góp phần vào giải quyết hiệu quả các vấn đề quốc tế, được bạn bè quốc tế tin tưởng.
Để đối ngoại Việt Nam tương xứng với tầm vóc lịch sử văn hóa và vị thế trong kỷ nguyên mới, hoạt động đối ngoại cần bảo đảm những yêu cầu sau:
Thứ nhất, đối ngoại phải mang “tinh thần dân tộc”, “hồn cốt văn hóa” để định hình tương lai.
Nghị quyết 80/NQ-TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, Đảng ta xác định: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”([1]). Đến Đại hội XIV, Đảng tiếp tục chỉ rõ, văn hóa phải trở thành một trong 4 trụ cột chính, bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Do đó, đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới phải thấm nhuần “tinh thần dân tộc” và “hồn cốt” văn hóa. Đó là giữ vững ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường kết hợp với phát huy sức mạnh bản sắc văn hóa, mà cốt lõi là truyền thống hòa hiếu, nhân văn, làm cho truyền thống và văn hóa trở thành “sức mạnh mềm”, là “trụ cột” trong quan hệ đối ngoại, góp phần định hình vị thế, bản sắc Việt Nam trong tương lai. Đồng thời, cần đưa truyền thống, văn hóa vào đối ngoại giúp quảng bá đất nước, tạo sự tin cậy và “định vị” bản sắc Việt Nam, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư hội kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith. Ảnh TTXVN
Thứ hai, đối ngoại phải góp phần kiến tạo môi trường phát triển, nâng cao vị thế Việt Nam.
Để kiến tạo môi trường phát triển, đối ngoại phải đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, chủ quyền lãnh thổ; kết nối nội lực với ngoại lực kiến tạo không gian phát triển mới. Thông qua ngoại giao đa phương và song phương không ngừng nâng cao vị thế đất nước, thu hút nguồn lực và mở rộng thị trường.
Để hiện thực hóa điều đó, đối ngoại cần chủ động, linh hoạt, làm tốt công tác dự báo, tham mưu cho Đảng, Nhà nước các giải pháp ngăn chặn từ xa các nguy cơ mất ổn định, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tạo nền tảng cho đất nước phát triển. Thông qua các diễn đàn song phương và đa phương phải tích cực, sáng tạo kết nối, mở ra các cơ hội hợp tác mới, đưa Việt Nam tham gia sâu, rộng vào các chuỗi cung ứng chiến lược; đẩy mạnh kinh tế đối ngoại để thu hút đầu tư, công nghệ, tri thức và nguồn lực bên ngoài để phục vụ các mục tiêu phát triển. Đồng thời, nâng cao vị thế và định vị quốc gia, đóng góp có trách nhiệm, hiệu quả và dẫn dắt, định hình luật chơi quốc tế.
Thứ ba, đối ngoại góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” và sự nghiệp hòa bình, tiến bộ của nhân loại.
Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân là “tuyến phòng thủ đầu tiên”, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình. Do đó, đối ngoại trước hết phải góp phần chủ động ngăn ngừa các yếu tố đe dọa an ninh từ sớm, từ xa; trong mọi tình huống cần kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ từ khi chưa nguy, không để đất nước bị động, bất ngờ. Phát huy vai trò của đối ngoại quốc phòng, ngoại giao nhân dân để tạo dựng lòng tin, đa dạng hóa mối quan hệ, đập tan mưu đồ cô lập Việt Nam; tiếp tục lan tỏa giá trị văn hóa con người Việt Nam; thông tin kịp thời, chính xác về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản bác các quan điểm sai trái của thế lực thù địch.
Tiếp tục thực hiện đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, giúp Việt Nam có tiếng nói quan trọng trong các vấn đề khu vực và toàn cầu. Tích cực tham gia vào cơ chế đa phương, đóng góp thiết thực hiệu quả vào các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, các diễn đàn quan trọng, nhất là ASEAN, APEC…, góp phần giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống. Đồng thời, đối ngoại cần tiếp tục thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình, hợp tác cùng phát triển, đóng góp tích cực cho sự nghiệp tiến bộ của nhân loại.
Từ những yêu cầu trên, để đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, trong mọi tình huống phải luôn kiên định mục tiêu, nguyên tắc và phương châm đối ngoại.
Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là kim chỉ nam cho đối ngoại, là vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Do đó, trong mọi tình huống, công tác đối ngoại phải luôn đặt mục tiêu độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, hạnh phúc của nhân dân lên trên hết, trước hết. Đồng thời, phải giữ vững nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” - lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng, song trong từng hoàn cảnh cụ thể phải thật sự mềm dẻo, linh hoạt, để có biện pháp giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa quốc gia với quốc tế. Để đạt được điều đó, công tác đối ngoại phải thường xuyên làm tốt công tác tổng kết thực tiễn; chủ động nghiên cứu nắm chắc tình hình, dự báo kịp thời những vấn đề mới, nhất là vấn đề phức tạp, nhạy cảm trong quan hệ quốc tế, để có đối sách phù hợp.
Hai là, giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa ngoại giao Việt Nam.
Bản sắc văn hóa ngoại giao đó là sự kết tinh giá trị đặc sắc ngoại giao truyền thống và thành tựu 40 năm đổi mới. Cốt lõi là bản sắc “ngoại giao cây tre” - “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Đó là sự kết hợp giữa kiên định nguyên tắc độc lập, lợi ích quốc gia và sự linh hoạt, khôn khéo trong ứng xử để “là bạn, là đối tác tin cậy” của các nước trong cộng đồng quốc tế. Vì vậy, một mặt phải tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; mặt khác, cần mở rộng và tiếp thu những tinh hoa đối ngoại tiến bộ của thế giới, với các trị cốt lõi: hòa bình, hợp tác, bình đẳng, bền vững, lấy luật pháp quốc tế làm nền tảng, để làm giàu bản sắc văn hóa Việt Nam, với tư tưởng chủ đạo: Độc lập tự chủ, tự lực tự cường, hòa nhập không hòa tan.
Ba là, tiếp tục nâng tầm sức mạnh ngoại giao trong kỷ nguyên mới.
Đây là yếu tố đảm bảo cho ngoại giao tương xứng với tầm vóc lịch sử văn hóa và vị thế Việt Nam. Do đó, đối ngoại phải tiếp tục vươn mình trong kỷ nguyên mới, để thực sự tương xứng với tầm vóc và vị thế Việt Nam. Muốn vậy, đối ngoại phải luôn luôn phát huy tinh thần chủ động đi trước đón đầu, không ngừng nâng cao năng lực dự báo chính xác tình hình; nhất là những vấn đề mới, những vấn đề mang tính chiến lược, toàn cầu. Đồng thời, cần đổi mới tư duy từ “tham gia” sang “kiến tạo”, từ quốc gia tham gia, sang “quốc gia kiến tạo, định hình và dẫn dắt”; thực hiện tốt vai trò trong các tổ chức quốc tế, tích cực tham gia đóng góp sáng kiến vào các diễn đàn đa phương và song phương. Mặt khác, cần nêu cao tinh thần tích cực, sáng tạo “dám nghĩ, dám làm, có tinh thần chủ động tiến công, dám vượt ra khỏi khuôn khổ những tư duy cũ, những lĩnh vực quen thuộc để có suy nghĩ và hành động vượt tầm quốc gia, đạt tới tầm khu vực và quốc tế”([2]), góp phần nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế, tham gia tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế thới.
Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp, không ngừng nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.
Đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt nhằm bảo vững chắc vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, nâng cao vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Do đó phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng và an ninh để tạo sức mạnh tổng thể. Triển khai đồng bộ, linh hoạt các hoạt động đối ngoại theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả”, nâng cao khả năng thích ứng. Cùng với nâng cao hiệu quả ngoại giao kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật cần nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng, thực hiện nhất quán chính sách quốc phòng “4 không”, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa, tăng cường hợp tác quốc tế để UNESCO tiếp tục công nhận di sản văn hóa thế giới với các di sản đủ điều kiện; gắn ngoại giao văn hóa với thương hiệu quốc gia, nâng cao vị thế và sự tôn trọng của bạn bè quốc tế đối với Việt Nam. Thực hiện có hiệu quả công tác truyền thông đối ngoại và bảo hộ công dân; đấu tranh kiên quyết với các luận điệu sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Lịch sử hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh đối ngoại không chỉ có sứ mệnh tiên phong trong gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh để bảo vệ lợi ích quốc gia; mà còn là phương tiện để thế giới hiểu về Việt Nam và để Việt Nam biết về thế giới, từ đó mở ra những cơ hội mới cho đất nước phát triển. Kỷ nguyên mới đang mở ra, để Việt Nam thực sự vươn mình, đòi hỏi công tác đối ngoại cần có sự đột phá mới trong tư duy và hành động, không ngừng nâng cao vị thế đất nước, huy động tối đa mọi nguồn lực, đưa đất nước ngày càng phát triển, tham gia trách nhiệm, hiệu quả vào cộng đồng quốc tế, làm nên một Việt Nam kiên cường, bất khuất, năng động sáng tạo, thân thiện trong lòng bạn bè quốc tế.
(Tiếp theo và hết)
Đại tá Phạm Văn Hải
Chủ nhiệm Chính trị, Sư đoàn 325, Quân đoàn 12
[1] Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026, tr. 2.
[2] Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 184.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025
- Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1
- Đảng cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1
- Đảng cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 2
- Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2022, tr. 184
- Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội, tập 5
- Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (2013), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, phần 1
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn