
Nghị định 238/2026/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 168/2024/NĐ-CP) chính thức có hiệu lực từ ngày 15/8/2026 mang đến nhiều điều chỉnh quan trọng. Đáng chú ý, cơ quan quản lý đã nới lỏng hình thức xử phạt đối với lỗi không có thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô cá nhân, đồng thời siết chặt quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Ảnh minh họa
Chuyển sang phạt cảnh cáo lỗi không dùng ghế an toàn cho trẻ em
Thay vì áp dụng hình thức phạt tiền ngay từ đầu, Nghị định 238/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh giảm nhẹ mức phạt đối với người đi xe gia đình không trang bị ghế an toàn cho trẻ nhỏ. Cụ thể, văn bản bổ sung khoản 1a vào trước khoản 1 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP:
"Phạt cảnh cáo đối với người điều khiển xe ô tô thực hiện hành vi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe mà không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em theo quy định (trừ xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách)."
Tuy nhiên, pháp luật vẫn nghiêm cấm việc bố trí trẻ nhỏ ngồi ở vị trí tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sửa đổi, bổ sung điểm m khoản 3 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP nêu rõ:
"Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35 mét trên xe ô tô ngồi cùng hàng ghế với người lái xe (trừ xe ô tô chỉ có một hàng ghế)"
Như vậy, từ ngày 15/8/2026, các chủ xe ô tô cá nhân chở trẻ em dưới 10 tuổi và cao dưới 1,35m nếu thiếu thiết bị an toàn sẽ chỉ nhận mức phạt nhẹ nhất là cảnh cáo. Nhưng nếu để trẻ ngồi ở hàng ghế đầu cùng tài xế, mức phạt tiền sẽ dao động từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Quy định phạt cảnh cáo này không áp dụng đối với xe ô tô kinh doanh vận tải hành khách.
Thời hiệu xử phạt 1 năm và giá trị pháp lý của hình ảnh "phạt nguội"
Cùng với quy định về an toàn cho trẻ em, Điều 4 Nghị định 168/2024/NĐ-CP cũng chuẩn hóa toàn bộ nguyên tắc tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.
Theo đó, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ được ấn định là 1 năm.
Đối với các vi phạm được phát hiện qua hệ thống camera hoặc thiết bị kỹ thuật do tổ chức, cá nhân cung cấp, thời hạn sử dụng kết quả thu thập được tính từ thời điểm ghi nhận cho đến hết ngày cuối cùng của thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Quá thời hạn nêu trên mà người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt theo quy định thì kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp không còn giá trị sử dụng.
Trường hợp cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hạn sử dụng kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
Về việc xác định thời điểm vi phạm để tính thời hiệu, pháp luật quy định căn cứ theo Luật Xử lý vi phạm hành chính. Riêng đối với các hành vi vi phạm được phát hiện thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp: thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm được tính từ thời điểm phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện, thiết bị kỹ thuật ghi nhận hành vi vi phạm.
Doãn Đức (TH)
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn