
HQ Online - Tại Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW “Về xây dựng và phát triển Việt Nam thành quốc gia biển mạnh” (Nghị quyết 20). Nghị quyết này đã xác định tầm nhìn chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Tuy nhiên, Nghị quyết 20 chỉ thực sự tạo nên sức mạnh khi được cụ thể hóa bằng những chủ trương, chính sách và giải pháp đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lực lượng. Trong tổng thể đó, xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam (HQNDVN) hiện đại là một trong những điều kiện quyết định để bảo vệ thành quả phát triển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và hiện thực hóa mục tiêu quốc gia biển mạnh.
Tư duy chiến lược mới về biển - Bước phát triển quan trọng trong hoạch định đường lối của Đảng
Biển luôn giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Từ những đội hùng binh Hoàng Sa, Bắc Hải thực thi chủ quyền trên Biển Đông hàng trăm năm trước đến những chiến công giữ biển trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là không gian phát triển, không gian văn hóa và không gian chiến lược của quốc gia. Trong bối cảnh thế giới bước vào kỷ nguyên kinh tế biển xanh, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược trên các vùng biển ngày càng gay gắt, Nghị quyết 20 ra đời có ý nghĩa như một dấu mốc mới trong tư duy chiến lược của Đảng về phát triển đất nước từ biển, hướng ra biển và làm giàu từ biển.
Nghị quyết 20 không chỉ kế thừa những thành quả lý luận và thực tiễn của Nghị quyết số 36-NQ/TW (khóa XII) “Về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” mà còn mở rộng tầm nhìn phát triển, chuyển từ mục tiêu “phát triển bền vững kinh tế biển” sang mục tiêu cao hơn là xây dựng Việt Nam trở thành “quốc gia biển mạnh”. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về cách diễn đạt mà phản ánh bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng: Biển được nhìn nhận như một không gian phát triển tổng hợp, nơi hội tụ sức mạnh kinh tế, quốc phòng an ninh (QPAN), đối ngoại, khoa học công nghệ (KHCN), văn hóa và sức mạnh quốc gia tổng hợp.
Khái niệm “quốc gia biển mạnh” không chỉ được đo bằng chiều dài bờ biển, quy mô đội tàu hay sản lượng khai thác hải sản. Một quốc gia biển mạnh trước hết phải có năng lực quản trị biển hiện đại; khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên biển; làm chủ KHCN biển; xây dựng lực lượng thực thi pháp luật và lực lượng quốc phòng đủ mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; đồng thời có khả năng tham gia tích cực vào quản trị biển khu vực và toàn cầu. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa “giàu từ biển”, “mạnh nhờ biển” và “bảo vệ biển bằng sức mạnh tổng hợp của quốc gia”.
Đối với Việt Nam, biển không chỉ đem lại lợi thế phát triển mà còn quyết định trực tiếp đến môi trường hòa bình, ổn định và triển vọng phát triển lâu dài của đất nước. Hơn 3.260 km bờ biển, hàng nghìn đảo, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng lớn tạo nên nguồn lực chiến lược to lớn. Phần lớn hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện bằng đường biển; nhiều trung tâm kinh tế, công nghiệp, đô thị lớn đều gắn với không gian ven biển. Đồng thời, Biển Đông là tuyến giao thương quốc tế quan trọng, nơi hội tụ lợi ích của nhiều quốc gia, cũng là khu vực tiềm ẩn những nhân tố tác động đến an ninh, ổn định và phát triển của đất nước. Vì vậy, phát triển biển luôn phải song hành với bảo vệ biển; phát triển kinh tế luôn gắn chặt với củng cố QPAN và đối ngoại.

Phó Đô đốc Nguyễn An Phong, Bí thư Đảng uỷ, Chính ủy Quân chủng Hải quân thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 679, Vùng 1 Hải quân
Một điểm nổi bật của Nghị quyết 20 là xác lập cách tiếp cận phát triển theo hướng tích hợp, liên ngành và hiện đại. Biển không còn được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ khai thác tài nguyên mà trở thành không gian đổi mới sáng tạo, không gian phát triển xanh, không gian kết nối quốc tế và không gian chiến lược bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều đó đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về thể chế, mô hình quản trị, cơ cấu kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và năng lực KHCN, đồng thời huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức và toàn dân tham gia phát triển biển.
Trong tổng thể chiến lược đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD) trên biển và HQNDVN hiện đại không chỉ là yêu cầu bảo vệ chủ quyền mà còn là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu quốc gia biển mạnh. Lịch sử phát triển của các cường quốc biển trên thế giới cho thấy, không một quốc gia nào có thể vươn lên mạnh về biển nếu thiếu một lực lượng hải quân đủ sức làm chủ vùng biển, bảo vệ lợi ích quốc gia và giữ vững môi trường hòa bình cho phát triển. Đối với nước ta, HQNDVN chính là lực lượng nòng cốt trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo (CQBĐ), đồng thời là chỗ dựa tin cậy cho ngư dân vươn khơi bám biển, bảo vệ các hoạt động kinh tế biển và góp phần nâng cao vị thế, uy tín quốc gia trên trường quốc tế.
Bởi vậy, Nghị quyết 20 không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới của chiến lược biển Việt Nam mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng sức mạnh biển quốc gia toàn diện, trong đó HQNDVN giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây chính là nền tảng để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển thịnh vượng, hùng cường, bảo vệ vững chắc CQBĐ của Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh - HQNDVN là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền, kiến tạo môi trường hòa bình cho phát triển
Nghị quyết 20 không chỉ xác lập mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh mà còn thể hiện tư duy phát triển toàn diện, lấy sức mạnh tổng hợp quốc gia làm nền tảng. Theo đó, biển không còn được nhìn nhận đơn thuần là nguồn tài nguyên để khai thác mà trở thành không gian phát triển chiến lược, nơi hội tụ các lợi ích về kinh tế, QPAN, đối ngoại, KHCN, văn hóa và sinh thái. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “khai thác tiềm năng biển” sang “quản trị, làm chủ và phát triển bền vững không gian biển”, phù hợp với xu thế phát triển của các quốc gia biển hiện đại.
Một quốc gia biển mạnh, trước hết phải có nền kinh tế biển mạnh. Điều đó đòi hỏi phải cơ cấu lại các ngành kinh tế biển theo hướng xanh, hiện đại và có giá trị gia tăng cao; phát triển đồng bộ hệ thống cảng biển, logistics, công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, khai thác năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp sinh học biển, du lịch biển chất lượng cao và các đô thị ven biển thông minh. Đặc biệt, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ vệ tinh, thiết bị không người lái và công nghệ đại dương sẽ trở thành những động lực mới nâng cao năng lực quản trị biển, dự báo thiên tai, khai thác tài nguyên và giám sát hoạt động trên biển.
Tuy nhiên, lịch sử cũng như thực tiễn quốc tế cho thấy, kinh tế biển chỉ có thể phát triển bền vững khi được đặt trong môi trường hòa bình, ổn định và được bảo vệ bằng sức mạnh quốc gia. Vì vậy, phát triển kinh tế biển phải luôn gắn chặt với củng cố QPAN và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia theo luật pháp quốc tế. Đây không phải là hai nhiệm vụ tách rời mà là hai mặt thống nhất của một chiến lược phát triển. Quốc phòng vững mạnh tạo nền tảng cho phát triển; phát triển kinh tế lại bổ sung nguồn lực để tăng cường sức mạnh quốc
Trong tổng thể sức mạnh đó, HQNDVN giữ vai trò nòng cốt trong quản lý, bảo vệ CQBĐ và thực thi nhiệm vụ quốc phòng trên hướng biển. Không chỉ là lực lượng chiến đấu khi Tổ quốc bị xâm phạm, đây còn là lực lượng trực tiếp duy trì sự hiện diện thường xuyên trên các vùng biển đảo; bảo vệ các tuyến hàng hải, các công trình kinh tế biển, các hoạt động khai thác hợp pháp của Nhà nước và Nhân dân; phối hợp với các lực lượng thực thi pháp luật giữ gìn trật tự, an ninh, an toàn trên biển. Chính sự hiện diện liên tục, chính quy và hiện đại của HQNDVN là minh chứng sinh động cho ý chí bảo vệ chủ quyền và quyết tâm giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước.
Trong điều kiện mới, vai trò của HQNDVN không chỉ giới hạn ở nhiệm vụ quân sự thuần túy mà ngày càng mở rộng sang các lĩnh vực hỗ trợ phát triển kinh tế biển. Các lực lượng của HQNDVN tích cực tham gia tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; hỗ trợ ngư dân phòng, chống thiên tai; bảo đảm an toàn hàng hải; tham gia bảo vệ môi trường biển; phối hợp nghiên cứu khoa học biển và thực hiện đối ngoại quốc phòng. Mỗi chuyến tàu ra Trường Sa, mỗi hoạt động dân vận trên các đảo, mỗi cuộc diễn tập cứu hộ hay tuần tra chung đều góp phần củng cố thế trận QPTD trên biển, tăng cường niềm tin của Nhân dân và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực.
Để hoàn thành sứ mệnh Nghị quyết 20 đặt ra, HQNDVN cần tiếp tục được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, lấy con người làm trung tâm, KHCN làm động lực và nghệ thuật quân sự làm nền tảng. Hiện đại hóa không chỉ là trang bị tàu chiến, tên lửa hay phương tiện kỹ thuật tiên tiến mà còn là hiện đại hóa tư duy tác chiến, năng lực chỉ huy - điều hành, trình độ làm chủ công nghệ số, năng lực tác chiến điện tử, không gian mạng, tác chiến không người lái và khả năng phối hợp liên quân, liên lực lượng. Đó chính là điều kiện để HQNDVN đủ sức xử lý hiệu quả các tình huống trên biển, bảo vệ lợi ích quốc gia trong mọi điều kiện.
Khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh sẽ chỉ trở thành hiện thực khi sức mạnh kinh tế biển và sức mạnh bảo vệ biển phát triển đồng bộ, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Trong mối quan hệ đó, HQNDVN vừa là “lá chắn thép” bảo vệ CQBĐ, vừa là lực lượng kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và an toàn để kinh tế biển phát triển nhanh, xanh, bền vững. Đây chính là sự kết hợp biện chứng giữa phát triển và bảo vệ, giữa xây dựng và giữ nước - quy luật xuyên suốt của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Xây dựng HQNDVN hiện đại - Hiện thực hóa khát vọng quốc gia biển mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới
Trước hết, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với củng cố QPAN và mở rộng đối ngoại. Mọi quy hoạch phát triển cảng biển, khu kinh tế ven biển, đô thị biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, hạ tầng logistics và khai thác tài nguyên biển phải đồng thời đáp ứng yêu cầu xây dựng thế trận QPTD trên biển, thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Đây là nguyên tắc chiến lược đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định: phát triển tạo nguồn lực cho bảo vệ Tổ quốc, còn QPAN vững mạnh là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững.
Hai là, đẩy nhanh xây dựng HQNDVN theo hướng hiện đại, lấy chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu làm tiêu chí trung tâm. Hiện đại hóa phải được triển khai đồng bộ cả về tổ chức lực lượng, vũ khí, trang bị, hạ tầng kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, khoa học quân sự và chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vệ tinh, phương tiện không người lái và tác chiến đa miền đang làm thay đổi phương thức tiến hành chiến tranh trên biển, cần chủ động làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng lực nhận biết tình huống, chỉ huy, hiệp đồng, tác chiến điện tử, tác chiến không gian mạng và bảo vệ các công trình kinh tế biển trọng yếu. Một lực lượng hải quân hiện đại không chỉ được đo bằng trang bị tiên tiến mà còn bằng trình độ con người, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với mọi hình thái xung đột trong tương lai.
Ba là, xây dựng thế trận QPTD trên biển vững chắc, gắn kết chặt chẽ giữa các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Dân quân tự vệ biển với cấp ủy, chính quyền, doanh nghiệp và ngư dân ven biển. Thực tiễn đã chứng minh rằng, sức mạnh bảo vệ biển đảo không chỉ đến từ các lực lượng vũ trang mà còn được tạo nên, bởi “thế trận lòng dân” trên biển. Mỗi ngư dân chấp hành pháp luật, mỗi con tàu khai thác hợp pháp, mỗi doanh nghiệp đầu tư vào kinh tế biển xanh, mỗi nhà khoa học nghiên cứu về biển đều góp phần khẳng định sự hiện diện hòa bình, hợp pháp và bền vững của Việt Nam trên các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.
Bốn là, phát huy mạnh mẽ KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong quản trị biển quốc gia. Xây dựng cơ sở dữ liệu biển thống nhất; phát triển hệ thống quan trắc, giám sát biển thông minh; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo, cảnh báo, quản lý tài nguyên và bảo đảm an toàn hàng hải; đầu tư cho công nghệ đại dương, năng lượng sạch ngoài khơi và công nghiệp biển hiện đại sẽ tạo nền tảng để nâng cao năng lực quản trị biển, tăng sức cạnh tranh quốc gia và hỗ trợ hiệu quả cho nhiệm vụ bảo vệ CQBĐ.
Năm là, cần tiếp tục nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng và hợp tác quốc tế về biển trên cơ sở kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Kết hợp hài hòa giữa sức mạnh nội lực với sức mạnh của thời đại sẽ tạo thêm nguồn lực, uy tín và vị thế để Việt Nam bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình và thúc đẩy phát triển bền vững.
Khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế mà còn là biểu hiện sinh động của ý chí tự cường dân tộc và tư duy chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới. Nghị quyết 20 đã mở ra một không gian phát triển mới, trong đó biển vừa là động lực tăng trưởng, vừa là tuyến phòng thủ chiến lược của đất nước. Trên hành trình hiện thực hóa khát vọng ấy, HQNDVN tiếp tục giữ vai trò lực lượng nòng cốt trong quản lý, bảo vệ CQBĐ, bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển và kiến tạo môi trường hòa bình để phát triển.
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn