
HQVN - Quan điểm chỉ đạo xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn mới ở Phần II, mục 2 Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định: “Tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Đây là quan điểm rất mới. Tôi cho rằng quan điểm này cần phải được nhận thức rõ, hiểu cho đúng và thực hiện nghiêm túc.
Nếu như tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã được Đảng ta khẳng định, thể hiện đậm nét trong văn kiện các kỳ đại hội, các nghị quyết, chiến lược..., thì “đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên” lần đầu tiên Đảng ta đề cập trong báo cáo chính trị, hơn nữa lại được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần.

Đô đốc Tea Sokha, Tư lệnh, Tổng Thư ký Ủy ban An ninh hàng hải quốc gia Campuchia duyệt Đội danh dự Hải quân nhân dân Việt Nam. Ảnh: Vũ Hưởng
Đặt đối ngoại ở vị trí trọng yếu, thường xuyên, không chỉ là sự phát triển tư duy về đối ngoại của Đảng lên một tầm cao mới, mà còn là bước chuyển chiến lược để phát triển đất nước; thể hiện tầm nhìn, làm sâu sắc thêm phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên định mục tiêu bất biến là lợi ích tối thượng của quốc gia-dân tộc với nội hàm là: Hòa bình, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đồng thời linh hoạt trong sách lược, để xử lý “cái vạn biến”; hài hòa lợi ích trong quan hệ với các nước, vừa hợp tác vừa đấu tranh, không để bị cô lập, đối đầu. Sở dĩ, Đảng ta khẳng định quan điểm trên bởi vì:
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh-lãnh tụ thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, người sáng lập ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại đạt đến tầm nghệ thuật, với nét nổi bật là sự vận dụng nhuần nhuyễn “năm biết”: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến; là khả năng tạo dựng thời cơ và chớp thời cơ, là ngoại giao “tâm công” thu phục lòng người bằng chính nghĩa, tình người và lẽ phải. Người xác định đối ngoại phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng, theo phương châm “vừa đánh, vừa đàm”, đặt Việt Nam trong dòng chảy của cách mạng thế giới.
Thứ hai, lịch sử cách mạng nước ta đã chứng minh đối ngoại có vai trò quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại; từ năm 1950, Việt Nam đã thiết lập ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô (trước đây), các nước dân chủ nhân dân để nhận được sự ủng hộ to lớn. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng kiên trì đấu tranh chính trị, pháp lý, quân sự buộc Mỹ phải đương đầu với một thế trận chiến tranh nhân dân toàn diện; ngoại giao trở thành mũi nhọn đấu tranh sắc bén trên trường quốc tế. Đất nước thống nhất, với chủ trương “tăng cường hợp tác quốc tế” (Đại hội VI), “đa dạng hóa, đa phương hóa” (Đại hội VII) và không ngừng phát triển qua các kỳ Đại hội VIII, IX, X, XI, XII (muốn là bạn, sẵn sàng là bạn); đến Đại hội XIII “Là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm”, đã góp phần đưa Việt Nam đạt những thành tựu vĩ đại.

Tàu 015-Trần Hưng Đạo cập Cảng Căn cứ Hải quân Kure thăm chính thức Nhật Bản. Ảnh: Đức Tuấn
Thứ ba, tình hình thế giới ngày càng phức tạp và gia tăng nhân tố bất ổn bởi chính sách răn đe quân sự, sử dụng vũ lực để giải quyết bất đồng của các nước lớn và sự hỗ trợ của đồng minh đã khoét sâu thêm những hoài nghi, gây chia rẽ. Tuy nhiên, vũ lực không thể giải quyết triệt để bất đồng. Từ đây đòi hỏi mỗi quốc gia phải có đường lối đối ngoại phù hợp để tồn tại và phát triển.
Thứ tư, đất nước ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện hơn. Dự thảo Báo cáo chính trị đã nêu, hiện nay Việt Nam có quan hệ ngoai giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 43 quốc gia, 7 nước công nghiệp phát triển, 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới, 224 thị trường; đảm nhiệm nhiều trọng trách, vai trò tích cực tại nhiều diễn đàn đa phương. Đối với Quân đội, đã thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với hơn 100 nước, đặt 33 cơ quan tùy viên quốc phòng ở các nước, cử gần 1.000 lượt cán bộ làm nhiệm vụ tại châu Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và trụ sở Liên hợp quốc; làm cho đối ngoại quốc phòng trở thành một trong những trụ cột của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Quân chủng Hải quân luôn tích cực hội nhập thông qua các cơ chế hợp tác hải quân đa quốc gia với tần suất rất cao; thiết lập và duy trì quan hệ song phương với hải quân gần 50 nước, tạo dấu ấn trên trường quốc tế; thực sự là một điểm sáng của đối ngoại quốc phòng; góp phần quan trọng quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, xây dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Cùng với quá trình hội nhập, Việt Nam phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo các cam kết, thỏa thuận quốc tế. Điều này đặt ra cho đối ngoại trách nhiệm rất nặng nề.
Từ những lý do trên, có thể khẳng định, Trung ương xác định đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên là rất đúng. Qua đó, làm cho toàn hệ thống đối ngoại và hội nhập quốc tế được chú trọng, quan tâm, phát triển và đổi mới nhiều hơn; nhận thức sâu sắc hơn tính then chốt, quyết định, chỉ đạo thực hiện quyết liệt hơn, bảo đảm liên tục, đều đặn, không ngắt quãng, dừng lại. Để thực hiện tốt quan điểm trên, cần thực hiện tổng thể các giải pháp đề cập trong Dự thảo Báo cáo chính trị, trong đó tập trung vào một số giải pháp sau:
Một là, tiếp tục quán triệt, thực hiện tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; trường phái “Ngoại giao cây tre”: Mềm mại, khôn khéo nhưng kiên cường; quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo nhưng bản lĩnh, can trường; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì; biết nhu, biết cương, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”.
Hai là, đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế phải là sự nghiệp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, “hợp tác để đấu tranh và đấu tranh để hợp tác”; triển khai hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân đồng bộ, toàn diện, sâu rộng; xây dựng nền ngoại giao hiện đại; nâng tầm và phát huy vai trò tiên phong, nòng cốt, dẫn dắt; tham gia và định hình các thể chế đa phương; sẵn sàng làm cầu nối giải quyết xung đột, hạ nhiệt điểm nóng.

Tàu Hải quân các nước ASEAN tham gia diễn tập thực binh trên biển. Ảnh: Anh Thơ
Ba là, tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh; đối ngoại quốc phòng đi trước, mở đường cho ngoại giao Nhà nước; giữ thế cân bằng chiến lược, không để cuốn vào cạnh tranh giữa các nước lớn, bảo đảm: “Đảng vững, nước giàu, dân yên, quân mạnh, thêm bạn, bớt thù” như bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm đăng trên báo Quân đội nhân dân ngày 2/7/2025.
Bốn là, quá trình thực hiện, chống tuyệt đối hóa một mặt nào đó; quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hội nhập quốc tế là hai lĩnh vực có vị trí, vai trò khác nhau nhưng quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc bổ sung “đối ngoại và hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên” ngay sau quốc phòng, an ninh không có nghĩa là ngang hàng nhau mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất, nâng tầm đối ngoại, làm cho đối ngoại không chỉ là ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, mà còn bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc chưa nguy.
Đại tá NGUYỄN HỮU HẠNH, Chủ nhiệm Chính trị Vùng 1 Hải quân
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn