
HQ Online - Quan điểm chiến lược “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một phương hướng cải cách hành chính thông thường để trở thành kim chỉ nam xuyên suốt, định hình cho cuộc đại tu hệ thống chính trị lớn nhất, sâu rộng nhất trong lịch sử nước nhà.
“Kỷ nguyên vươn mình” và mối quan hệ với cải cách bộ máy
Thuật ngữ “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh và định hình trong thời gian gần đây hoàn toàn không phải là một khẩu hiệu chính trị thuần túy hay một lối diễn đạt tu từ.
Về bản chất, đây là một bước phát triển vượt bậc về nhận thức, một tư duy lý luận mới mang tính chất “đi trước, mở đường”. Kỷ nguyên này đánh dấu một chu kỳ phát triển lịch sử hoàn toàn mới của đất nước, kế thừa và tiếp nối một cách biện chứng những thành quả vĩ đại của “kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội” và “kỷ nguyên đổi mới”. Đây là kỷ nguyên của sự bứt phá toàn diện, vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tận dụng tối đa thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ để đưa quốc gia tiến vào trạng thái văn minh, hiện đại, giàu mạnh và thịnh vượng bền vững.
Cơ sở lý luận cốt lõi của kỷ nguyên này vẫn là sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội, nhưng đồng thời đòi hỏi một lăng kính tư duy quản trị đột phá, cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ phải vô cùng quyết liệt, nhạy bén để đạt được mục tiêu nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Với sự hỗ trợ của nền tảng kỹ thuật số liên thông, việc bãi bỏ cấp huyện không hề làm đình trệ công việc; ngược lại, thẩm quyền giải quyết thủ tục được phân bổ trực tiếp, minh bạch cho cấp xã và cấp tỉnh, giúp người dân và doanh nghiệp tiết kiệm hàng triệu giờ công lao động mỗi năm. Ảnh: Báo Khánh Hòa
Giữa “kỷ nguyên vươn mình” và cuộc cách mạng cải cách, tinh gọn bộ máy tồn tại một mối quan hệ biện chứng, hữu cơ không thể tách rời. Bộ máy hệ thống chính trị chính là cỗ máy điều phối, là động cơ dẫn dắt toàn bộ con tàu quốc gia. Một quốc gia không thể có tư thế “vươn mình” oai phong, bứt tốc mạnh mẽ trên trường quốc tế nếu vẫn phải tự kéo lê một cấu trúc hành chính già cỗi, nặng nề, nhiều ma sát nội bộ và thiếu tính liên kết đồng bộ.
Việc kiên quyết khép lại mô hình tổ chức cũ, mở ra một không gian quản trị mới mang tinh thần “tấn công, kiến tạo” – nghĩa là nhà nước không chỉ đóng vai trò người quản lý thụ động, cấp phép và giám sát, mà phải chủ động tìm kiếm cơ hội, kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi nhất để kích thích người dân và doanh nghiệp phát triển – chính là cách thức hữu hiệu nhất để giải phóng toàn bộ sức sản xuất. Triết lý kiến tạo này lấy nguồn lực nội sinh, đặc biệt là nguồn lực con người làm nền tảng, lấy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động cơ đột phá, kết hợp nhuần nhuyễn với việc tranh thủ tối đa ngoại lực (vốn FDI, công nghệ lõi từ quốc tế), biến tất cả thành sức mạnh tổng hợp để quốc gia cất cánh.
Triết lý vận hành “tinh - gọn - mạnh” trong bối cảnh mới
Quan điểm chiến lược “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một phương hướng cải cách hành chính thông thường để trở thành kim chỉ nam xuyên suốt, định hình cho cuộc đại tu hệ thống chính trị lớn nhất, sâu rộng nhất trong lịch sử nước nhà.
Mỗi thành tố trong triết lý này đều mang một hàm ý sâu sắc: “Tinh” đòi hỏi chất lượng nhân sự phải được nâng tầm vượt trội, tinh thông nghiệp vụ, đạo đức công vụ trong sáng. “Gọn” yêu cầu việc mạnh tay cắt bỏ tối đa các tầng nấc trung gian không cần thiết, triệt tiêu sự trùng lặp và chồng chéo về chức năng. Cuối cùng, “mạnh” là hệ quả tất yếu, tự nhiên khi quyền lực được phân bổ rành mạch, đi kèm với trách nhiệm cá nhân rõ ràng và nguồn lực được tập trung cao độ, tạo ra khả năng phản ứng và thực thi chính sách ở tốc độ cao.
Sự dứt khoát và quyết liệt mang tính cách mạng của chiến lược này đang được hiện thực hóa thông qua việc tái cấu trúc cấu trúc ở mọi cấp độ, từ Trung ương đến cơ sở.
Ở tầm vĩ mô Trung ương, với sự đồng thuận và quyết tâm cao độ, cả nước đã hoàn tất việc tinh giản một khối lượng lớn đầu mối cơ quan: giảm 5 bộ (tương ứng giảm 22,7%) và 3 cơ quan thuộc Chính phủ (tương ứng giảm 37,5%). Không dừng lại ở bề nổi, cơ cấu tổ chức sâu bên trong của các bộ, ngành cũng trải qua một đợt “gọt giũa” triệt để chưa từng có.
Cấu trúc hành chính trung ương trong các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã giảm được 13/13 tổng cục và tổ chức tương đương (tương ứng giảm 100%); giảm 509 cục và tổ chức tương đương (tương ứng giảm 76,2%); giảm 231 vụ và tổ chức tương đương (tương ứng giảm 60,2%); giảm 3.377 chi cục và tương đương chi cục (tương ứng giảm 93,8%); giảm 82/224 đơn vị sự nghiệp công lập trong cơ cấu tổ chức tại các Nghị định của Chính phủ (tương ứng giảm 36,6%); giải quyết chế độ cho 146.839 người nghỉ việc do sắp xếp tổ chức.
Theo Báo cáo số 12662/BC-BNV, ngày 26/12/2025 của Bộ Nội vụ
Đặc biệt, từ ngày 1/4/2026, 5 cơ quan thuộc Chính phủ đã chính thức được chuyển đổi thành 5 đơn vị sự nghiệp thuộc Ban Chấp hành Trung ương, đánh dấu một bước lột xác về cấu trúc tổ chức.
Ở địa phương, sự ra đời của Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội ngày 12/6/2025 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. Chủ trương tái định hình bản đồ hành chính quốc gia này được giới chuyên môn đánh giá là một bước đột phá vĩ đại về thể chế, một sự kiến tạo không gian phát triển mới mang “tầm nhìn trăm năm”.
Trọng tâm vĩ đại của cuộc cải cách địa phương này là việc chính thức áp dụng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (tỉnh và xã), đi kèm với quyết định mang tính lịch sử: kết thúc hoàn toàn sự tồn tại và hoạt động của cấp hành chính huyện trên toàn quốc kể từ ngày 1/7/2025.
|
Cấp hành chính |
Trước khi sắp xếp, tinh gọn |
Sau khi sắp xếp, tinh gọn |
Tỷ lệ tinh giảm/ Khối lượng cắt giảm cụ thể |
|
Tổng cục/cục/vụ |
Tổ chức phân mảnh nhiều tầng nấc, “bộ trong bộ” |
Xóa bỏ hoàn toàn cấp tổng cục, giảm tối đa cục/vụ |
Xóa 13 tổng cục (100%), giảm 509 cục (76,2%), 231 vụ (60,2%) |
|
Cấp tỉnh, thành phố |
63 đơn vị hành chính (58 tỉnh, 5 thành phố trực thuộc Trung ương) |
34 đơn vị hành chính (28 tỉnh, 6 thành phố trực thuộc Trung ương) |
Sáp nhập và giảm 29 đơn vị hành chính cấp tỉnh (46%) |
|
Cấp huyện |
Duy trì 696 đơn vị hành chính cấp huyện |
0 đơn vị (áp dụng triệt để chính quyền 2 cấp tỉnh - xã) |
Chấm dứt hoạt động toàn bộ 696 đơn vị cấp huyện |
|
Cấp xã, phường |
Hệ thống cơ sở rải rác với 10.035 đơn vị |
Còn lại 3.321 đơn vị (gồm 2.621 xã, 687 phường, 13 đặc khu) |
Giảm 6.714 đơn vị hành chính (tương đương 66,91%) |
Bảng tổng hợp dữ liệu sắp xếp, tinh gọn bộ máy (căn cứ Báo cáo số 12662/BC-BNV, ngày 26/12/2025 của Bộ Nội vụ)
Việc chuyển đổi sang mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp ở nước ta hoàn toàn tương thích và bắt nhịp với xu hướng phân quyền, hiện đại hóa bộ máy đang phổ biến tại các quốc gia phát triển trên thế giới. Lợi ích cốt lõi của mô hình này là tinh giản tối đa cấp trung gian, giúp thông tin và mệnh lệnh điều hành đi thẳng từ cấp thiết kế chính sách (Trung ương/tỉnh) đến cấp thực thi trực tiếp (xã/phường), loại bỏ hoàn toàn độ trễ, sự “tam sao thất bản” và chi phí trung chuyển của cấp huyện.
Hơn nữa, việc sáp nhập cấp tỉnh và cấp xã nhằm gia tăng diện tích tự nhiên và quy mô dân số sẽ tạo ra những thực thể hành chính có đủ sức mạnh tự chủ, tự hạch toán kinh tế. Không gian phát triển mới được mở ra sẽ xóa bỏ vĩnh viễn sự cạnh tranh không lành mạnh, triệt tiêu tính cục bộ địa phương và tình trạng đầu tư cơ sở hạ tầng dàn trải, manh mún trước đây, tạo ra động lực liên kết vùng mạnh mẽ để thu hút những siêu dự án đầu tư.
Cơ sở nền tảng vững chắc để Đảng và Nhà nước ta tự tin thực thi bước ngoặt lịch sử này chính là những thành tựu đột phá từ Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).
Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được số hóa, liên thông xuyên suốt từ Trung ương đến cấp xã đã kiến tạo ra một “hệ thần kinh quản trị” hoàn toàn mới thay thế cho các tầng nấc trung gian. Cú hích này phản ánh trực tiếp vào chất lượng phục vụ: chỉ số cải cách hành chính năm 2025 (PAR Index) cấp tỉnh đạt trung bình 89,96% – mức cao nhất từ trước đến nay; chỉ số hài lòng (SIPAS) cả nước đạt 83,09%, trong đó mức độ hài lòng của người dân tại 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới đều duy trì ở mức rất cao, dao động từ 77,92% đến 91,12%.
Dự thảo Báo cáo của Đảng ủy Chính phủ về sơ kết 1 năm hoạt động của Chính phủ và chính quyền địa phương 2 cấp, trình Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ do Bộ Nội vụ tham mưu xây dựng, đánh giá:
“Hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp cơ bản ổn định, thông suốt; việc giải quyết công việc cho người dân, doanh nghiệp được duy trì liên tục; cơ chế phân cấp, phân quyền tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương”.
Công cuộc đại phẫu bộ máy khổng lồ trong năm 2025 hoàn toàn không tạo ra sự đứt gãy trong phục vụ nhân dân. Khi các đầu mối trung gian bị triệt tiêu, kết hợp cùng hệ sinh thái dữ liệu số, hiệu suất phục vụ đã bùng nổ: Trong năm 2025, hơn 94 triệu hồ sơ được xử lý trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, tỷ lệ giao dịch thanh toán trực tuyến ở địa phương chạm mốc 95,99%. Dù trải qua xáo trộn lớn về tổ chức, tỷ lệ trả kết quả đúng hạn toàn quốc vẫn vững vàng ở mức 98,61%. Đó chính là minh chứng thép cho việc bộ máy dù nhỏ đi về quy mô nhưng lại vươn mình khổng lồ về sức mạnh kiến tạo.
Hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc và văn minh cho nhân dân
Mọi cuộc cải cách thể chế suy cho cùng chỉ thực sự có giá trị khi nó mang lại những lợi ích thiết thực cho hạnh phúc và sinh kế của người dân. Hiệu quả tài chính thu về từ cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy lần này là một con số khổng lồ, tạo ra cú hích vĩ mô chưa từng có. Theo ước tính của Bộ Nội vụ, tổng số tiền chi ngân sách tiết kiệm giai đoạn 2026 - 2030 là 190.500 tỷ đồng (gồm 27.600 tỷ đồng do giảm cán bộ, công chức cấp tỉnh; 128.700 tỷ đồng do giảm cán bộ, công chức cấp xã; 34.000 tỷ đồng do giảm cán bộ không chuyên trách cấp xã). Khoản dư địa tài khóa khổng lồ này, vốn nhiều thập kỷ qua phải chi trả cho lương bổng, duy trì vận hành trụ sở và chi thường xuyên cho một bộ máy hành chính cồng kềnh, nay sẽ được “giải phóng” và tái phân bổ vào hai trụ cột nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn: Giáo dục và Y tế.
Nguồn “tiết kiệm” của cuộc cải cách hành chính này nhằm phục vụ nhân dân đã được minh chứng rực rỡ và vô cùng xúc động khi năm học 2025 - 2026 vừa qua đã đi vào lịch sử khi là năm học đầu tiên chính sách miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông công lập được thực thi trên toàn quốc.
Theo báo cáo, tổng nhu cầu kinh phí ngân sách để thực hiện chính sách nhân văn này lên tới khoảng 31,4 nghìn tỷ đồng/năm học. Nguồn lực khổng lồ này được giải phóng một phần từ việc tinh giản bộ máy đã trở thành “tấm khiên” an sinh, san sẻ gánh nặng tài chính cho gia đình của hơn 23,2 triệu học sinh. Đối với các hộ gia đình thu nhập thấp và trung bình, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa, chi phí giáo dục (thường chênh lệch tới 6,2 lần so với nhóm thu nhập cao) luôn là một gánh nặng tài chính khổng lồ, là nguyên nhân chính khiến nhiều trẻ em phải bỏ học.
Việc nhà nước đài thọ toàn bộ học phí không chỉ giải tỏa áp lực mưu sinh, cho phép các gia đình tái cơ cấu thu nhập vào dinh dưỡng và y tế, mà còn là bản tuyên ngôn mạnh mẽ về tính ưu việt của chế độ: Không một trẻ em Việt Nam nào bị tước bỏ quyền được học tập và phát triển vì rào cản kinh tế.
Hơn nữa, nhờ nguồn lực dồi dào, ngân sách quốc gia dành cho giáo dục (hiện đang ở mức 14,2% GDP) dự kiến sẽ sớm tăng tốc tiệm cận mức 18 - 20%. Tỷ lệ đầu tư cho tri thức này sánh ngang với các cường quốc giáo dục như Singapore hay Nhật Bản.

Nguồn lực tài chính khổng lồ tiết kiệm được từ việc cắt giảm chi phí duy trì bộ máy hành chính cồng kềnh đang được Nhà nước điều tiết, tái đầu tư vào các chính sách an sinh xã hội cốt lõi, đảm bảo mọi trẻ em đều được hưởng quyền lợi giáo dục và chăm sóc y tế toàn diện. Ảnh: TTXVN
Song hành cùng giáo dục, lĩnh vực an sinh xã hội và y tế cộng đồng cũng đón nhận dòng vốn tái đầu tư khổng lồ. Hiện nay, tỷ trọng chi tiêu y tế công của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 3,7% GDP, khá thấp so với mức trung bình 6,5% của các nước thuộc tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Nhờ nguồn lực giải phóng từ bộ máy, mục tiêu tăng mức chi y tế lên 5,5 - 6% GDP hoàn toàn nằm trong tầm tay. Nguồn lực này sẽ là bệ đỡ vững chắc để mở rộng diện bao phủ bảo hiểm y tế từ 91% lên mức tối đa 98 - 99%, đồng thời hiện thực hóa lộ trình đầy tính nhân văn: miễn phí khám chữa bệnh cơ bản cho mọi người dân vào năm 2030, giúp triệt tiêu rủi ro “nghèo hóa vì bệnh tật”.
Đáng chú ý, dư địa tài khóa khổng lồ từ việc tinh gọn bộ máy không chỉ tạo nguồn lực cho an sinh xã hội mà còn là điều kiện tiên quyết để Đảng và Nhà nước thực hiện thành công cải cách tiền lương. Theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP của Chính phủ, từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở mới đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã được nâng lên mức 2.530.000 đồng/tháng. Đây là bước tiến vượt bậc nhằm cải thiện thu nhập, bảo đảm đời sống và tạo động lực cho đội ngũ nhân sự khu vực công cống hiến; đồng thời là minh chứng rõ nét nhất cho triết lý tinh gọn để bộ máy hoạt động mạnh hơn, hiệu năng và hiệu quả hơn.
Quá trình tinh gọn cấu trúc hành chính không chỉ tiết kiệm dòng tiền mà còn tạo ra sự dư dôi tài sản công quy mô lớn, mở ra cơ hội tối ưu hóa nguồn lực hạ tầng. Đơn cử, tại tỉnh Đồng Nai, việc sắp xếp lại chính quyền địa phương 2 cấp đã làm dôi dư ra 66 trụ sở làm việc khang trang của các cơ quan cấp huyện và cấp xã. Thay vì để lãng phí, chính quyền tỉnh đã linh hoạt ban hành văn bản quy phạm, giao cho các Trung tâm Dịch vụ tổng hợp cấp xã chức năng quản lý, khai thác những nhà, đất này nhằm mục đích thương mại, dịch vụ, tạo ra nguồn thu tự chủ để quay vòng đầu tư cho hạ tầng cơ sở địa phương.
Tại Quảng Ninh, tỉnh đã chủ động hợp nhất 4 đơn vị chuyên môn (Cảng vụ đường thủy, Đăng kiểm, Ban Quản lý bảo trì và Viện Quy hoạch) thành một đơn vị sự nghiệp công lập duy nhất có khả năng tự chủ hoàn toàn về tài chính.
Tương tự, hệ thống Làng trẻ em SOS cơ sở trên toàn quốc cũng được chuyển giao toàn diện về cho ngân sách và chính quyền địa phương quản lý theo Quyết định số 735/QĐ-TTg, bảo đảm sự chăm lo xuyên suốt, đồng bộ cho các nhóm đối tượng yếu thế theo tiêu chuẩn thống nhất của địa phương.
Những ví dụ thực tiễn trên khẳng định một chân lý: Tinh gọn không đơn thuần là một phép trừ cắt giảm, mà bản chất là một phép nhân tái phân bổ tài nguyên quốc gia, nhằm mục đích tối thượng là kiến tạo một xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh hơn.
Trung tá Lê Xuân Tiến, Trợ lý Ban Tuyên huấn, Phòng Chính trị Vùng 4 Hải quân
(Còn nữa)
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn