
Nếu bước chuyển chiến lược thứ nhất nhấn mạnh vai trò của “Tổ chức và con người tạo năng lực hành động”, thì bước chuyển chiến lược thứ hai - “Quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia” thể hiện một tầm nhìn chiến lược sâu rộng hơn về phương thức tổ chức, huy động và khai thác các nguồn lực phục vụ phát triển đất nước.
Từ tư duy quản trị quốc gia đến tư duy bảo vệ Tổ quốc trên biển
Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 (khóa XIV), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định bốn bước chuyển chiến lược nhằm tạo nền tảng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Nếu bước chuyển chiến lược thứ nhất nhấn mạnh vai trò của “Tổ chức và con người tạo năng lực hành động”, thì bước chuyển chiến lược thứ hai - “Quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia” thể hiện một tầm nhìn chiến lược sâu rộng hơn về phương thức tổ chức, huy động và khai thác các nguồn lực phục vụ phát triển đất nước.

Hải quân nhân dân Việt Nam tiến lên hiện đại, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Ảnh: Trọng Thiết
Đây không chỉ là đổi mới về tư duy quản trị quốc gia mà còn là sự chuyển biến căn bản trong nhận thức về mối quan hệ giữa phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn biến phức tạp, đặc biệt trên Biển Đông, yêu cầu quản trị thống nhất không gian phát triển càng trở nên cấp thiết. Đối với Hải quân nhân dân Việt Nam, đây vừa là yêu cầu khách quan, vừa là định hướng quan trọng để xây dựng Quân chủng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức làm nòng cốt trong bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Từ quản lý theo địa giới sang quản trị thống nhất không gian phát triển
Điểm nổi bật trong tư duy của Đảng là thay đổi cách tiếp cận về phát triển quốc gia. Nếu trước đây việc quản lý chủ yếu dựa trên ranh giới hành chính, ngành, lĩnh vực thì nay yêu cầu đặt ra là quản trị thống nhất toàn bộ không gian phát triển quốc gia trên cả đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian số và các lĩnh vực mới nổi. Đây là tư duy phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.
Trong thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số, không gian phát triển không còn giới hạn bởi địa lý. Chuỗi cung ứng, hạ tầng logistics, kinh tế biển, kinh tế số, an ninh mạng, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo… đều đòi hỏi phương thức quản trị liên thông, đồng bộ và thống nhất. Quản trị thống nhất không gian phát triển vì thế không đơn thuần là điều phối giữa các bộ, ngành hay địa phương, mà là tổ chức tối ưu mọi nguồn lực quốc gia theo mục tiêu chiến lược chung. Đây là tiền đề để nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, tạo thế và lực mới cho phát triển bền vững.
Từ “tư duy sở hữu” sang “tư duy khai thác giá trị”
Một điểm mới khác trong bước chuyển chiến lược thứ hai là nhấn mạnh phát huy hiệu quả nguồn lực, thay vì chỉ dừng ở việc quản lý hay phân bổ nguồn lực. Nguồn lực quốc gia bao gồm nguồn lực tự nhiên, con người, khoa học công nghệ, tài chính, dữ liệu, hạ tầng, văn hóa, vị thế quốc tế và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Nếu các nguồn lực này bị phân tán, cục bộ hoặc khai thác thiếu đồng bộ sẽ làm giảm sức mạnh quốc gia. Ngược lại, khi được quản trị thống nhất, liên kết chặt chẽ và sử dụng đúng trọng tâm, mỗi nguồn lực sẽ tạo hiệu ứng cộng hưởng, hình thành sức mạnh vượt trội. Đó cũng chính là tư duy “tối ưu hóa nguồn lực quốc gia” mà Đảng đang hướng tới trong giai đoạn phát triển mới.
Biển - không gian phát triển chiến lược của quốc gia
Đối với Việt Nam, biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn là không gian phát triển chiến lược. Hơn ba nghìn cây số bờ biển, hàng triệu kilômét vuông vùng biển, hệ thống đảo, quần đảo cùng vị trí nằm trên tuyến hàng hải quốc tế đã tạo nên lợi thế đặc biệt của đất nước.

Dự án Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai do Quân chủng Hải quân làm chủ đầu tư-một công trình chiến lược, kết hợp phát triển kinh tế xã hội gắn với củng cố quốc phòng an ninh ở vùng cực Nam Tổ quốc. Hình minh họa
Biển vừa là cửa ngõ giao thương, vừa là không gian phát triển kinh tế biển, năng lượng tái tạo, logistics, du lịch, nuôi trồng thủy sản, khai thác tài nguyên và hợp tác quốc tế. Đồng thời, biển cũng là hướng chiến lược trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Chính vì vậy, quản trị thống nhất không gian biển phải được đặt trong tổng thể quản trị không gian phát triển quốc gia. Mọi quy hoạch, đầu tư, khai thác, bảo vệ tài nguyên biển đều cần gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình và ổn định để phát triển.
Vận dụng xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam thời kỳ mới
Đối với Hải quân nhân dân Việt Nam, bước chuyển chiến lược thứ hai có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc.
Thứ nhất, xây dựng tư duy quản trị biển thống nhất. Hải quân không chỉ thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu mà còn phải tham gia tích cực vào quản trị không gian biển quốc gia. Điều đó đòi hỏi tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Hải quân với Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, lực lượng dân quân tự vệ biển, chính quyền địa phương ven biển và các bộ, ngành liên quan. Sự phối hợp ấy không đơn thuần nhằm xử lý tình huống trên biển mà hướng tới xây dựng cơ chế quản trị thống nhất, đồng bộ và hiệu quả.
Thứ hai, phát huy sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân trên biển. Quản trị thống nhất không gian phát triển cũng đồng nghĩa với việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển và củng cố quốc phòng. Các cảng biển, khu kinh tế ven biển đảo tiền tiêu, trung tâm logistics, hệ thống giao thông ven biển cần được quy hoạch theo hướng lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng khi cần thiết. Đây là biểu hiện sinh động của nghệ thuật kết hợp kinh tế với quốc phòng trong điều kiện mới.
Thứ ba, khai thác hiệu quả nguồn lực khoa học công nghệ. Trong chiến tranh hiện đại, ưu thế không còn phụ thuộc chủ yếu vào số lượng tàu chiến mà phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng công nghệ. Hải quân cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vệ tinh viễn thám, hệ thống thông tin chỉ huy tích hợp, phương tiện không người lái trên không, mặt nước và dưới nước; phát triển năng lực tác chiến điện tử, tác chiến mạng và cảnh báo sớm. Đầu tư cho khoa học công nghệ chính là đầu tư cho năng lực quản trị và sức mạnh chiến đấu lâu dài.

Vùng 3 Hải quân kiểm tra bắn đạn thật trên biển. Ảnh: CTV
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn lực quan trọng nhất vẫn là con người. Quân chủng Hải quân cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học công nghệ hiện đại, làm chủ vũ khí, trang bị thế hệ mới, giỏi ngoại ngữ, am hiểu luật pháp quốc tế và có khả năng hoạt động trong môi trường tác chiến đa lĩnh vực. Đồng thời, chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia về an ninh biển, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và công nghệ quốc phòng.
Thứ năm, tăng cường quản trị dữ liệu và chuyển đổi số. Không gian số đang trở thành một thành tố của không gian phát triển quốc gia. Hải quân cần xây dựng hệ thống dữ liệu biển thống nhất; kết nối thông tin giữa các lực lượng; ứng dụng nền tảng số trong quản lý, chỉ huy, huấn luyện, bảo đảm kỹ thuật và hậu cần. Việc hình thành hệ thống chỉ huy số hóa sẽ rút ngắn thời gian xử lý thông tin, nâng cao khả năng dự báo và ra quyết định trong mọi tình huống.
Thứ sáu, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển gắn với “thế trận lòng dân”. Nguồn lực quốc gia không chỉ là vật chất mà còn là lòng dân. Ngư dân, doanh nghiệp biển, các địa phương ven biển, lực lượng dân quân tự vệ biển chính là những thành tố quan trọng của thế trận quốc phòng toàn dân trên biển. Hải quân cần tiếp tục phối hợp tuyên truyền biển đảo, phổ biến pháp luật, làm điểm tựa hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển, tham gia cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên các vùng biển đảo.
Xây dựng Hải quân hiện đại gắn với khát vọng phát triển đất nước
Bước chuyển chiến lược thứ hai không chỉ đặt ra yêu cầu đổi mới đối với quản trị quốc gia mà còn mở ra tư duy mới trong xây dựng lực lượng Hải quân. Một Quân chủng Hải quân hiện đại không thể phát triển tách rời chiến lược phát triển kinh tế biển quốc gia. Ngược lại, phát triển bền vững kinh tế biển chỉ có thể thực hiện khi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển được bảo vệ vững chắc. Hai nhiệm vụ ấy bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Điều đó đòi hỏi Hải quân phải chủ động tham gia xây dựng các cơ chế phối hợp liên ngành; thúc đẩy phát triển công nghiệp đóng tàu, công nghiệp quốc phòng, công nghiệp công nghệ cao; mở rộng hợp tác quốc tế về đào tạo, khoa học công nghệ và gìn giữ hòa bình trên biển; đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược để kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước và Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng những quyết sách đúng, trúng, hiệu quả.
Trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quản trị thống nhất không gian phát triển còn phải hướng tới xây dựng “không gian biển thông minh”, nơi mọi hoạt động giám sát, cảnh báo, chỉ huy, bảo đảm hậu cần, cứu hộ, cứu nạn và bảo vệ chủ quyền được kết nối trên nền tảng số, tạo nên sức mạnh tổng hợp giữa con người, công nghệ và tổ chức.

Hải quân Việt Nam làm điểm tựa vững chắc cho ngư dân vươn khơi bám biển. Ảnh: CTV
Bước chuyển chiến lược thứ hai mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ra tại Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV thể hiện tầm nhìn đổi mới sâu sắc về phương thức quản trị quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới. Quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia không chỉ là yêu cầu đối với nền kinh tế mà còn là định hướng chiến lược đối với sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Vận dụng vào xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam thời kỳ mới đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ tư duy quản trị biển, tổ chức lực lượng, phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển gắn với thế trận lòng dân. Chỉ khi mọi nguồn lực quốc gia được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất, sức mạnh tổng hợp của đất nước mới được phát huy cao nhất.
Đó cũng chính là con đường để xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ năng lực bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và tạo nền tảng cho mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh, hùng cường trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam
Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về
bhqdt@baohaiquanvietnam.vn